Văn mẫu lớp 12: Cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của sông Đà gồm 2 bài giải chi tiết với 9 bài văn mẫu được biên soạn từ những bài làm hay nhất của các bạn học sinh trên cả nước. Thông qua 9 bài văn mẫu này, các em học sinh lớp 12 có thêm gợi ý tham khảo, trau dồi ngữ văn, rèn kĩ năng làm bài trong 12 ngày trở lên. Hãy tham khảo bài làm vẻ đẹp trữ tình của sông đà nhé.

Bạn đang xem: Phân tích sông đà trữ tình

Video hướng dẫn phân tích vẻ đẹp trữ tình của sông đà

Dàn ý Phân tích bài dành cho học sinh giỏi

Dưới đây là hướng dẫn cảm nhận vẻ đẹp trữ tình của sông đà nâng cao cho các bạn hãy tham khảo cùng usogorsk.com ngay nhé.

Mở bài 

Người lái đò sông Đà Mở đầu Giới thiệu đề bài: phân tích tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.

Thân bài

a) Luận điểm 1: Vài nét về tác giả, tác phẩm.

* Tác giả Nguyễn Tuân.

– Nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam.

– Văn phong đa dạng, phong phú với nhiều thay đổi trong thời kỳ trước và sau cách mạng

+ trước cách mạng theo phong cách xê dịch, chối bỏ hiện thực, tìm về những giá trị quá khứ mang hơi thở âm vang.

+ sau cách mạng gắn liền với vẻ đẹp của cuộc sống và của quần chúng nhân dân.

+ Phong cách nghệ thuật độc đáo: khám phá thế giới về văn hoá và thẩm mỹ, luôn miêu tả con người bằng vẻ đẹp tài hoa, nghệ sĩ.

* Tác phẩm: Người lái đò Sông Đà.

– là bài văn xuất sắc được đăng trong tập “Sông Đà” (1960)

– là kết quả của chuyến đi gian khổ nhưng rất thú vị của nhà văn trong những năm 1958-1960 lên mảnh đất Tây Bắc khám phá thiên nhiên, con người Tây Bắc.

b) Đề 2: Hình tượng sông Đà.

* Sông Đà hung bạo:

– Đá bờ sông đắp thành.

– Hát dài ghềnh.

– Quãng Tà Mường Lát dưới Sơn La với lốc xoáy hút nước ngày đêm.

– Tiếng thác đá bên sông

+ từ xa: âm thanh “tiếng thác như than thở, rồi như van xin, rồi như khiêu khích, giễu cợt”, được so sánh với “muôn ngàn con vật”. Trâu mộng đang nép mình giữa rừng che tre trăm đốt .. “.

+ Đến thác:” sóng tung bọt trắng xóa cả chân trời đá “

– hiện ra ba con vi trùng vây quanh người lái đò trên sông.

– Sự sông năm nào và, làm thân và làm bạn với người

muôn đời núi non sông dài

Năm năm muôn đời trả thù ghen tuông

* Sông Đà trữ tình

– Từ trên máy bay nhìn xuống: đẹp dịu dàng như người con gái Tây Bắc, của dòng sông. Màu nước đa dạng, phong phú, thay đổi theo mùa

– Đối với những người đi rừng lâu năm:

+ như một ông già hiền với bờ, với bãi

– Cảnh hai bên sông:

+ lặng như tờ

+ hoang vu. như một bờ tiền sử

+ thơ và sinh động với con nai giác ngộ, dầm xanh loay hoay của cá:

c) Luận án 3 những hình ảnh của một người lái đò

* Bối cảnh:

là một người lái đò có kinh nghiệm

-….+ thời gian dài trong nghề

+ mỗi trăm những lần lên xuống sông và lái t anh ta chỉ đạo chính hơn 60 lần.

+ hiểu đặc điểm của sông.

* Vẻ đẹp, ngoại hình:

– Ông già khoảng 70 tuổi nhưng còn rất tráng kiện và khỏe mạnh.

+ thân hình: “gầy như sừng, mun”.

+ hai cánh tay “nổi như cây sào”.

+ đôi chân “co rúm như bấu vào bệ lái trong tưởng tượng”.

+ Thế giới “diệu vợi như tìm bến xa”.

* Vẻ đẹp và phẩm chất:

– Hoàn cảnh, tình huống xuất hiện đặc biệt:

+ ở thác hạ.

+ cuộc chiến đấu không cân sức với con sông hung dữ.

=> Tỏa sáng vẻ đẹp, phẩm chất ở người lái đò.

+ bản lĩnh, gan dạ.

+ thông minh, tinh ranh.

+ người nghệ sĩ tài hoa.

d) Luận điểm 4: Đánh giá về nghệ thuật và nội dung.

Kết bài:

– Khẳng định ý nghĩa, giá trị của Người cầm lái Sông Đà.

*

Cảm nhận của anh chị về vẻ đẹp trữ tình của sông đà học sinh giỏi

Nguyễn Tuân “cả đời đi tìm cái đẹp”. Tác phẩm của ông là những trang viết sống động về con người và thiên nhiên với cảm hứng ngợi ca. “Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng thẩm mĩ đó của nhà văn. Dưới ngòi bút của ông, sông Đà hiện lên không chỉ hung bạo như một “con thủy quái nham hiểm, độc ác” mà còn dịu dàng, say đắm như một mỹ nhân Tây Bắc.

“Người Lái Đò sông Đà” được sáng tác trong chuyến đi thực tế của nhà văn lên vùng núi Tây Bắc. Tác phẩm được sáng tác trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Đặc biệt trong chuyến đi năm 1958, Nguyễn Tuân được sống hòa mình với thiên nhiên và con người Tây Bắc. Điều này trở thành nguồn cảm hứng lớn để anh viết.

Trong phần đầu của đoạn trích, tác giả chủ yếu miêu tả sự hung bạo, hùng vĩ và hiểm trở của một dòng sông nhiều thác ghềnh. Đó là sự dữ dội của cảnh đá bồi thành bãi sông, cảnh ghềnh Hát Loóng “đá đổ nước, đá xô sóng, sóng xô ngược gió”, những cảnh hút nước rùng rợn; cảnh thác nước gào thét; dòng sông nhiều cửa tử… Kết thúc đoạn trích, tác giả chủ yếu bàn về vẻ đẹp trữ tình của sông Đà.

Nguyễn Tuân đã quan sát sông Đà ở nhiều góc nhìn. Đầu tiên là từ trên cao nhìn xuống – với tầm nhìn bao quát. Ở góc nhìn đó, tác giả hình dung sông Đà như một người phụ nữ đẹp với mái tóc trữ tình đằm thắm: “Sông Đà chảy dài như áng tóc trữ tình, chân tóc ẩn hiện mây trời Tây Bắc nở hoa với hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Múa đốt cánh đồng xuân, hình ảnh so sánh “sông Đà như sợi tóc” kết hợp với điệp ngữ “suối dài, chảy dài” dường như mở ra trước mắt người đọc chiều dài vô tận của dòng sông; mái tóc của Đà giang như trải dài đến vô tận, trập trùng giữa màu xanh bao la, tĩnh mịch của núi rừng Phép so sánh “như một áng tóc trữ tình” cho người đọc xuýt xoa trước vẻ đẹp ngỡ ngàng của sông Đà. một kiệt tác của đất trời Chữ “ang” thường gắn với thơ văn, nay được họ Nguyễn gắn với “tóc” trở thành “áng tóc trữ tình” Hai chữ “ẩn” càng tăng thêm sự huyền bí, trữ tình. của dòng sông. vẻ đẹp của sông Đà – của người thiếu nữ còn được tác giả nhấn mạnh qua động từ “nở” và điệp từ “lăn tăn” kết hợp với hoa ban trắng rừng, hoa gạo đỏ bên bờ sông. Đọc hình ảnh mái tóc như được tô điểm bởi mây trời, như tô điểm thêm hoa lá và mơ màng như sương xuân.

Không dừng lại ở đó, vẻ đẹp trữ tình của sông Đà còn được Nguyễn Tuân thể hiện qua cách miêu tả màu nước. Câu văn thể hiện niềm say mê, đắm say của Nguyễn Tuân về sông nước Tây Bắc bay bổng, lãng mạn: “Ta đã say mê ngắm mây xuân bay trên sông Đà, ta đã đi qua mây thu thấy vào nước sông Đà”. . Chính vẻ đẹp của mây trời đã tạo nên vẻ đẹp riêng cho sông Đà. Nếu Hoàng Phủ Ngọc Tường thấy sông Hương có màu xanh thẫm và ánh sáng “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” do mây phản chiếu và đẹp như một đóa hoa phù du; Nguyễn Tuân đã phát hiện ra vẻ đẹp của màu nước sông Đà thay đổi theo mùa. Vào mùa xuân, nước sông Đà có màu xanh ngọc bích, “không phải màu xanh của trai sông Gâm, sông Lô”. Màu xanh lục bảo là trong, màu xanh lá cây tươi sáng, màu xanh – một màu gợi cảm, tươi mới. Đó là màu của nước, của núi, của bầu trời. Vào mùa thu, nước sông Đà “chảy chậm lại đỏ như da mặt người bầm vì rượu, đỏ bừng trong người bất bình, căm giận bồi hồi”. Câu văn sử dụng phép ví von “từ từ đỏ ửng lên như mặt người bị men rượu” làm cho người đọc hình dung ra vẻ đẹp đa dạng của màu nước sông Đà. Đồng thời, qua câu văn, Nguyễn Tuân cũng đã tô đậm thêm trong thơ trữ tình sông nước, có cả sự dữ dội của sông nước Tây Bắc.

Tác giả quan sát ở góc độ cận cảnh, bằng những câu thơ, Nguyễn Tuân đã để ngòi bút của mình phiêu diêu ​​về Đà giang. Tác giả so sánh sông Đà với người bạn cũ đi xa, nhớ nhung, vui mừng khôn xiết khi gặp lại. Khi bắt gặp ánh nắng rọi vào mắt mình, trong sự hướng ngoại, nhà văn phát hiện ra nắng sông Đà đẹp đến nao lòng “bừng sáng cả một màu nắng tháng ba”. Mượn một câu thơ trong bài thơ Đường nổi tiếng “Ở lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên về Quảng Lăng” – Nguyễn Tuân dường như đã ngầm khẳng định vẻ đẹp cổ kính của sông nước Tây Bắc. Dòng sông ấy gắn với thơ Đường gợi lên vẻ đẹp êm đềm, trong trẻo, lấp lánh, hồn nhiên và êm đềm. Trong cảm nhận của Nguyễn Tuân, khi gặp lại sông Đà, ông mới nhận ra “dòng sông vui như thấy nắng tan đi sau cơn mưa dầm dề, vui như nối lại một giấc mộng tan vỡ”. Với cách so sánh, nhân hoá độc đáo, sông Đà hiện lên thật đẹp bởi chiều sâu: thân thiện, dễ mến, phảng phất hơi ấm tình người của con sông. Nó trở thành một người bạn trung thành và thủy chung, bình lặng chờ đợi sự trở về của những người đã đi xa. Tác giả miêu tả cảnh đôi bờ sông thật ấn tượng. Người đọc như lạc vào thế giới cổ tích, thế giới của thời tiền sử. Câu “Thuyền tôi lênh đênh trên sông Đà” đầy vần trắc tạo cảm giác bình yên, tĩnh lặng, tĩnh lặng. Nội quan này càng làm nổi bật vẻ đẹp nguyên sơ, hoang sơ của đôi bờ sông Đà. Đúng như tác giả đã so sánh “bờ sông hoang vu chẳng khác gì bờ tiền sử. Bờ sông thơ ngây như một câu chuyện cổ tích xưa. Cách so sánh độc đáo, dùng không gian để gợi thời gian, mở rộng biên độ, làm nổi bật vẻ đẹp hồn nhiên, trong sáng, nguyên sơ của buổi sơ khai.

Cảnh hai bên sông được Nguyễn Tuân miêu tả chi tiết. Trong cái tĩnh lặng của thiên nhiên, trong cảnh sương đêm còn chưa tan, nhà văn đã thấy một vẻ đẹp tràn đầy sức sống “một cánh đồng ngô nhú vài lá ngô non đầu mùa nhưng không một bóng người, cỏ đâm chồi nảy lộc. núi non đang ra chồi non ”. Cảnh tượng ấy còn ấn tượng bởi một “đàn hươu chúi đầu xuống ăn những búp cỏ đẫm sương đêm”. Vẻ đẹp ấy đầy chất thơ và chất hội họa. Thiên nhiên như một bức tranh màu nước lộng lẫy. Điều đó làm chúng ta nhớ đến cảnh ở Trung Quốc, giả sử rằng một người đánh cá một ngày nọ chèo thuyền ngược dòng sông và bị lạc vào một thế giới thần tiên. Chất thơ trong đoạn văn viết về sông Đà của Nguyễn Tuân có lẽ còn toát lên từ điển gợi lên trong lòng người đọc vẻ đẹp của vùng sông nước Tây Bắc – nơi khởi nguồn của tình yêu quê hương đất nước.

Đoạn trích khép lại bằng hình ảnh “tiếng đàn cá hú… đuổi đàn hươu đi” và dòng sông Đà trong thơ Tản Đà “nổi bọt sóng… biết bao cảnh ân tình của một người tình không biết. ”làm cho hình ảnh dòng sông trở nên hấp dẫn, có hồn và hấp dẫn hơn.

Xem thêm: Đăng Ký Xét Tuyển Sinh Phú Yên Edu, Đăng Ký Xét Tuyển Đh/Cđ

Tóm lại, Nguyễn Tuân đã miêu tả dòng sông như một tác phẩm nghệ thuật, một tác phẩm hội họa mà thiên nhiên ban tặng để tô điểm cho đất nước; Ông đã khám phá ra cuộc sông về phương diện thẩm mỹ nên thể hiện một phong cách tài hoa. Trang sách đã khép lại, nhưng dường như tâm hồn người đọc vẫn đang trôi trên một dòng sông “hồn nhiên như truyện cổ tích xưa”.