James L. Lewis III

, MD, Brookwood Baptist Health and Saint Vincent’s Ascension Health, Birmingham


Kali là cation chủ yếu trong tế bào, nhưng chỉ 2% tổng lượng kali cơ thể là ngoài tế bào. Vì hầu hết kali trong tế bào chứa trong tế bào cơ, lượng kali cơ thể tương đương với khối lượng cơ thể không chứa mỡ. Người lớn trung bình 70 kg có khoảng 3500 mEq kali.

Bạn đang xem: M lớn của kali


Kali là yếu tố chính quyết định tính thẩm thấu trong tế bào. Tỷ lệ giữa nồng độ kali trong dịch nội bào và nồng độ trong dịch ngoại bào tế bào ảnh hưởng quan trọng tới điện thế màng tế bào, vai trò quan trọng hoạt động tế bào, như dẫn truyền thần kinh và co tế bào. Vì vậy, thay đổi nhỏ của nồng độ kali huyết thanh có thể có biểu hiện lâm sàng đáng kể. Nồng độ kali huyết thanh có thể


Biểu hiện lâm sàng của rối loạn nồng độ kali máu có thể gồm yếu cơ và rối loạn nhịp tim Tổng quan về rối loạn nhịp tim .


Trong trường hợp không có các yếu tố chuyển dịch kali giữa trong tế bào và ngoài tế bào, nồng độ kali huyết thanh tương quan chặt chẽ với tổng lượng kali cơ thể. Một khi nồng độ nội bào và ngoại bào ổn định, sự giảm nồng độ kali huyết thanh khoảng 1 mEq/L cho biết tổng thiếu hụt kali khoảng 200 tới 400 mEq (200 to 400 mmol). Bệnh nhân có nồng độ kali ổn định 3 mEq/L thường có thiếu hụt kali đáng kể.


Insulin di chuyển kali vào tế bào; nồng độ insulin cao làm giảm nồng độ kali huyết thanh. Nồng độ insulin thấp, như trong đái tháo đường toan ceton Toan ceton (DKA) , gây kali di chuyển ra ngoài tế bào, gây tăng kali máu, đôi khi xuất hiện cả thiếu hụt tổng lượng kali cơ thể.


Các chất đồng vận beta-adrenergic, đặc biệt đồng vận beta2 chọn lọc, đưa kali vào trong tế bào, trong khi chẹn beta và đồng vận alpha thúc đẩy kali đi ra ngoài tế bào.



Toan và kiềm hô hấp Toan hô hấp cấp ảnh hưởng kali huyết thanh Kiềm hô hấp nồng độ ít hơn so với nhiễm toan kiềm chuyển hóa. Tuy nhiên, nồng độ kali huyết thanh nên luôn được phân tích trong tình trạng pH huyết thanh (và nồng độ bicarbonat).


Lượng kali nhập từ chế độ ăn uống bình thường dao động 40 - 150 mEq(40 and 150 mmol)/ngày. Ở trạng thái ổn định, lượng kali mất qua phân thường dưới 10% lượng nhập vào. Ở trạng thái ổn định, lượng kali mất qua phân thường dưới 10% lượng nhập vào 90% còn lại được bài tiết trong nước tiểu, do đó thay đổi bài tiết kali của thận ảnh hưởng lớn tới cân bằng kali.


Khi lượng kali hấp thụ > 150 mEq (> 150 mmol)/ngày, khoảng 50% lượng kali thừa xuất hiện trong nước tiểu trong vài giờ tiếp theo. Phần lớn số còn lại được chuyển vào khoang nội bào, do đó giảm thiểu sự gia tăng kali huyết thanh. Khi lượng kali nhập vào tiếp tục tăng, sự tiết aldosterone được kích thích và thận bài tiết kali tăng lên. Ngoài ra, tái hấp thu kali từ phân khi xuất hiện sự điều hòa, và có thể giảm tới 50% khi thừa kali mạn tính.


Khi lượng kali nhập vào giảm, kali nội bào lại cung cấp khoảng đệm lớn cho nồng độ kali huyết thanh. Bảo tồn kali của thận triển khai tương đối chậm so trong đáp ứng với giảm kali từ chế độ ăn và ít hiệu quả hơn so với thận bảo tồn natri. Vì vậy, thiếu kali thường là 1 vấn đề lâm sàng thường xuyên. Sự bài tiết kali qua nước tiểu khoảng 10 mEq (10 mmol)/ngày cho thấy thận bảo tồn kali gần như tối đa và thiếu hụt kali đáng kể.


Nhiễm toan cấp làm giảm bài tiết kali, trong khi nhiễm toan mạn và nhiễm kiềm cấp tính có thể thúc đẩy bài tiết kali. Tăng chuyển natri tới ống lượn xa, cũng như xuất hiện với lượng natri nhập vào tăng hoặc lợi tiểu quai, thúc đẩy bài tiết kali.


Giả hạ kali máu,> hoặc kali huyết thanh thấp giả tạo, đôi khi được tìm thấy khi mẫu máu từ bệnh nhân bị bệnh bạch cầu dòng tủy mạn tính và một số lượng bạch cầu 100.000/mcL (100 x 109/L) vẫn ở nhiệt độ phòng trước khi được xử lý vì bạch cầu bất thường trong mẫu sẽ lấy kali huyết thanh. Phòng tránh bằng cách nhanh chóng tách huyết tương hoặc huyết thanh trong các mẫu máu.

Xem thêm: Tiếng Anh Trình Độ B Tương Đương Toeic Bao Nhiêu ? Bằng B Tiếng Anh Tương Đương Toeic Bao Nhiêu


Giả tăng kali máu, hoặc kali huyết thanh tăng giả tạo thường phổ biến hơn, thường xảy ra do tan máu và giải phóng kali nội bào. Để ngăn ngừa kết quả sai, nhân viên lấy máu không nên hút máu nhanh qua kim nhỏ hoặc trộn mẫu máu quá mức. Giả tăng kali cũng có thể là kết quả của số lượng tiểu cầu > 400.000/mcL (> 400 x 109/L) do phóng thích kali từ tiểu cầu trong quá trình đông máu; trong những trường hợp này, kali huyết tương (không có hiện tượng đông máu), trái ngược với kali huyết thanh, là bình thường.


*

Bản quyền © 2022 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.